Hầu Đồng | Quan Hoàng Bảy Bảo Hà | Mai Thế Hiệp



Đạo diễn, diễn viên Mai Thế Hiệp hầu đồng giá Quan Hoàng Bảy Bảo Hà nhân dịp khánh tiệc Quan Lớn Tuần Tranh 25 tháng 5 năm Kỷ Hợi (2019)
Người Bảo Hà chỉ biết ông Hoàng Bảy là “thần vệ quốc” – một vị anh hùng của miền sơn cước từng đánh giặc phương Bắc bảo vệ nhân dân. Khi ông mất; đền thờ ông được xây dựng trên ngọn núi Cấm; quay mặt ra phía sông Hồng; đúng thế “tựa sơn đạp thủy” để “trấn yểm” cho vùng đất biên giới được bình yên; thịnh vượng.

Truyền thuyết kể rằng; Ông Hoàng Bảy hay thường gọi là Ông Bảy Bảo Hà. Ông là con Đức Vua Cha. Theo lệnh vua; ông giáng phàm trần; trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn; cuối thời Lê. Vào cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786 ) khắp vùng Qui Hóa gồm Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (thuộc Lào Cai bây giờ) luôn bị giặc phương Bắc tràn sang cướp phá; khắp vùng loạn lạc; cư dân điêu tàn. Trước cảnh đau thương tang tóc ấy; tướng Hoàng Bẩy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải. Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc; giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn.

Trong một trận chiến đấu không cân sức Ông Bảy bị giặc bắt; chúng tra khảo hành hạ dã man; nhưng ông vẫn một lòng kiên trung; quyết không đầu hàng; cuối cùng; không làm gì được; chúng sát hại ông rồi mang thi thể vứt xuống dòng sông. Kì lạ thay; di quan của ông dọc theo sông Hồng; trôi đến phà Trái Hút; Bảo Hà; Lào Cai thì dừng lại. Nhân dân trong vùng đã vớt; an táng thi thể ông và lập đền thờ tại đây để ghi nhớ công đức to lớn của ông.

Còn một điều kì lạ nữa là khi ông bị giặc sát hại; thì trời bỗng chuyển gió; mây vần vũ; kết lại thành hình thần mã; từ thi thể ông phát ra một đạo hào quang; phi lên thân ngựa; đến Bảo Hà thì dừng lại; trời bỗng quang đãng; mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội.

Sau này khi hiển linh ông được giao quyền cho trấn giữ đất Lào Cai; ngự trong dinh Bảo Hà; đến lúc này ông nổi tiếng là một Ông Hoàng không chỉ giỏi kiếm cung mà còn rất ăn chơi; phong lưu: khi thanh nhàn ông ngả bàn đèn; uống trà mạn Long Tỉnh; ngồi chơi tổ tôm; tam cúc; xóc đĩa… lúc nào cũng có thập nhị tiên nàng hầu cận; ông cũng luôn khuyên bảo nhân dân phải ăn ở có nhân có đức; tu dưỡng bản thân để lưu phúc cho con cháu. Triều vua Minh Mạng; Thiệu Trị sắc tặng ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc – Ông Hoàng Bảy Bảo Hà”.

Đền Bảo Hà lưng tựa vào núi; mặt hướng theo dòng nước sông Hồng và nơi đây còn có sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên với kiến trúc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam theo thuyết phong thủy. Đến thờ thần vệ quốc” Hoàng Bẩy; vị anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ dân làng. Vì thú chơi phong lưu của ông nên nơi ông ngự còn được mệnh danh là Trái Hút Bảo Hà.

Hội đền Bảo Hà được tổ chức vào ngày 17/7 âm lịch hàng năm. Vào ngày này có đông đảo du khách thập phương đến dự. Người ta thường dâng ngựa xám; bàn đèn; thuốc cống; kẹo xìu (kẹo lạc)…. Ngoài những ngày lễ hội; vào những ngày thường (đặc biệt là vào mùa xuân) khách thập phương trong cả nước vẫn thường xuyên tụ họp về đây để thắp hương tưởng niệm; cầu an; cầu lộc.
Lên đồng hay còn gọi là hầu đồng, hầu bóng, đồng bóng là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng dân gian (dòng Saman giáo) của nhiều dân tộc, trong đó có tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các tín đồ Shaman ông đồng, bà đồng). Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.

Ở Việt Nam, lên đồng là nghi thức không thể thiếu trong các Tín ngưỡng Tứ Phủ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần,… Về hình thức, nghi thức lên đồng hầu về Hội đồng Thánh Trần mang tính shaman nặng hơn khi lên đồng hầu về Tứ Phủ bởi hầu về Hội đồng Thánh Trần có các hành động trực tiếp lên thể xác Thanh Đồng như đi trên than hồng, xiên lình (dùng thanh sắt sắc nhọn đâm xuyên vào hai má và miệng thanh đồng), ăn lửa, lên đai (1 hình thức thắt cổ, có người được gọi là sát căn, có khi lên 3 đai)..
Người đứng giá hầu đồng gọi chung là Thanh Đồng, Thanh Đồng là nam giới thì được gọi là “cậu”, nữ giới được gọi là “cô hoặc bà đồng”. Thường có hai hoặc bốn phụ đồng (được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng) đi theo Thanh Đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt…

Âm nhạc là thành phần không thể thiếu, cung văn chính là người tấu nhạc phục vụ buổi lễ.

Ngoài ra, các thành phần ngồi xem buổi hầu là các cử tọa. Những người này thường là con nhang đệ tử, thường thể hiện lòng tôn kính các vị thánh mỗi khi giáng ngự, hòa theo điệu múa hát và được Thánh ban lộc.
Đầu tiên, sau khi hát thờ xong, cung văn bắt đầu hát hầu. Ông bà đồng lúc này bắt đầu lảo đảo, ra dấu bằng tay, phủ vải đỏ lên mặt.

Nguồn: https://fumceunice.org/

Xem thêm bài viết: https://fumceunice.org/category/lam-dep/

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *